Họ Cá heo đại dương – Wikipedia tiếng Việt

Cá heo đại dương hay họ Cá heo đại dương (Delphinidae) là một họ cá heo phân bố rộng rãi ở biển. Ba mươi loài còn sinh tồn đã được mô tả. Chúng bao gồm một số loài lớn có tên chung chứa từ “cá voi” thay vì “cá heo”, như “cá voi” sát thủ và “cá voi” hoa tiêu. Họ Cá heo đại dương là một họ trong siêu họ Delphinoidea, cũng bao gồm cá heo chuột (họ Phocoenidae), và cá voi trắng và kỳ lân biển (họ Monodontidae). Các loài cá heo sông là họ hàng của siêu họ Delphinoidea.

Các loài cá heo đại dương có kích cỡ từ cá heo Maui ( dài 1,7 m và nặng 50 kg ) đến cá voi trinh sát ( 9,4 m và nặng 10 tấn ), loài cá heo lớn nhất được biết đến. Một số loài biểu lộ dị hình giới tính ; con đực lớn hơn con cháu. Chúng có khung hình được sắp xếp hài hòa và hợp lý và hai chi biến hóa thành chân chèo. Mặc dù không trọn vẹn linh động như hải cẩu, một số ít con cá heo hoàn toàn có thể vận động và di chuyển với vận tốc 29 km / giờ cho những khoảng cách ngắn. Đa số những loài này đa phần ăn cá, cùng với một số lượng nhỏ mực ống và động vật hoang dã giáp xác nhỏ, nhưng có một số ít loài chuyên ăn mực ống, hoặc, trong trường hợp của cá voi trinh sát, cũng ăn những động vật hoang dã có vú thủy sin h và chim biển. Tất cả, tuy nhiên, trọn vẹn là thú ăn thịt. Chúng thường có từ 100 đến 200 cái răng, mặc dầu một số ít loài có số lượng răng ít hơn đáng kể. Chúng vận động và di chuyển trong những đàn lớn, hoàn toàn có thể lên đến hàng ngàn thành viên ở một số ít loài. Mỗi đàn tìm kiếm thức ăn trong khoanh vùng phạm vi từ hàng chục đến hàng trăm km vuông. Một số nhóm có cấu trúc xã hội lỏng lẻo, với những thành viên liên tục tham gia vào đàn hoặc rời đi, nhưng 1 số ít khác có vẻ như lâu dài hơn hơn, có lẽ rằng bị chi phối bởi một con đực và một nhóm con cháu. Các thành viên tiếp xúc bằng những âm thanh khác nhau, như những tiếng huýt ở tần số thấp và cũng như những tiếng lạch cạch ở tần số cao 80 – 220 kHz, hầu hết được sử dụng để xác định bằng tiếng vang. Việc mang thai của một con cháu lê dài từ 10 đến 18 tháng và hiệu quả là sinh ra một con non. Một số loài thích nghi tốt với việc lặn xuống những độ rất sâu. Chúng có một lớp mỡ dưới da để giữ ấm trong nước lạnh .Mặc dù những loài cá heo đại dương rất thông dụng trên khắp quốc tế, đa phần những loài ưa những vùng nước ấm hơn của vùng nhiệt đới gió mùa, nhưng một số ít loài, như cá heo đầu bò, ưa khí hậu lạnh hơn. Cá heo đực thường giao phối với nhiều con cháu mỗi năm, nhưng con cháu chỉ giao phối mỗi hai đến ba năm. Con con thường được sinh ra vào mùa xuân và mùa hè, và con cháu chịu mọi nghĩa vụ và trách nhiệm nuôi dưỡng chúng. Con mẹ của 1 số ít loài nhịn ăn và nuôi con của chúng trong khoảng chừng thời hạn tương đối dài .

Cá heo đại dương đôi khi bị săn bắt ở những nơi như Nhật Bản, trong một hoạt động được gọi là săn cá heo. Bên cạnh việc săn bắt, chúng cũng phải đối mặt với các mối đe dọa từ việc khai thác, mất môi trường sống và sự ô nhiễm biển. Cá heo đã được mô tả trong nhiều nền văn hóa khác nhau trên thế giới. Thỉnh thoảng chúng có mặt trong văn học và phim ảnh, như trong bộ phim Free Willy của Warner Bros. Cá heo đôi khi bị nuôi nhốt và huấn luyện để biểu diễn trong các chương trình. Loài cá heo phổ biến nhất trong điều kiện nuôi nhốt là cá heo mũi chai, và ít hơn 50 con cá voi sát thủ đã được tìm thấy trong các thủy cung vào năm 2012.

Bộ Cetacea: Bộ Cá voi

Các phân tích ở mức độ phân tử gần đây chỉ ra rằng các chi như chi Cá heo đốm (Stenella) và chi Cá heo hông trắng (Lagenorhynchus) không phải là đơn ngành như hiện nay vẫn đang công nhận. Vì thế, trong các năm tới đây có lẽ sẽ có các thay đổi trong phân loại của họ này.

  • LeDuc R.G., Perrin W.F., Dizon A.E. (1999). Phylogenetic relationships among the delphinid cetaceans based on full cytochrome b sequences. Marine Mammal Science 15, 619–648.
  • May-Collado L., Agnarsson I. (2006). Cytochrome b and Bayesian inference of whale phylogeny. Molecular Phylogenetics and Evolution 38, 344-354.

You may also like...

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *